Hàng loạt dự án thành phần cao tốc Bắc-Nam giai đoạn 2 chậm tiến độ

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam
ANTD.VN - Có đến 8/12 dự án thành phần cao tốc Bắc-Nam giai đoạn 2021-2025 (giai đoạn 2) đang bị chậm tiến độ so với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân hàng đầu vẫn là do thiếu mặt bằng để thi công và nguồn nguyên liệu.

Theo báo cáo của Cục Quản lý đầu tư xây dựng, Bộ GTVT, tính đến ngày 20/9, diện tích mặt bằng đã bàn giao đến nay đạt 666,84/721,25km đạt 92,5%,tổ chức thi công được trên phạm vi khoảng 613,5/721,25km đạt 85%.

Toàn bộ các gói thầu của 12 dự án thành phần cao tốc Bắc-Nam giai đoạn 2 đã huy động 5.583 máy móc thiết bị các loại, 12.871 nhân sự thi công, 349 nhân sự tư vấn giám sát và tổ chức 561 mũi thi công (286 mũi thi công cầu, 275 mũi thi công đường, hầm chui dân sinh và một số công trình trên tuyến).

Sản lượng thực hiện của các dự án cao tốc Bắc-Nam giai đoạn 2 được khoảng 10.177/95.937,6 tỷ đồng, đạt 10,6% hợp đồng, chậm 2,05% so với kế hoạch. Trong đó, 4/12 dự án thành phần đáp ứng kế hoạch gồm Vũng Áng-Bùng, Bùng-Vạn Ninh, Vạn Ninh-Cam Lộ, Vân Phong-Nha Trang.

Cao tốc Quảng Ngãi- Hoài Nhơn đang bị chậm so với tiến độ đưa ra

Cao tốc Quảng Ngãi- Hoài Nhơn đang bị chậm so với tiến độ đưa ra

Có 8/12 dự án thành phần chậm tiến độ so với kế hoạch gồm Bãi Vọt-Hàm Nghi chậm 3,34%, Hàm Nghi-Vũng Áng chậm 5,83%, Quảng Ngãi-Hoài Nhơn chậm 1,28%, Hoài Nhơn-Quy Nhơn chậm 3,72%, Quy Nhơn-Chí Thạnh chậm 0,16%, Chí Thạnh-Vân Phong chậm 13,59%, Cần Thơ-Hậu Giang chậm 9,33% và Hậu Giang-Cà Mau chậm 8,96%.

Lãnh đạo Cục Quản lý đầu tư xây dựng cũng chỉ ra các khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng ảnh hưởng tới quá trình thi công khi hiện nay các địa phương chưa thực hiện chuyển đổi rừng với các diện tích tăng thêm, hoặc sai khác vị trí so với Nghị quyết số 273/NQ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; công tác triển khai xây dựng các khu tái định cư chậm so với tiến độ đề ra; chưa di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật phức tạp (nhất là hệ thống điện cao thế).

Về nguồn vật liệu, các nhà thầu gặp khó khăn trong việc thỏa thuận với một số các chủ sở hữu đất khu vực mỏ về chi phí chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh theo quy định tại Điều 73 Luật Đất đai .

Ngoài ra, công suất các mỏ cát đang khai thác trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (đoạn Bãi Vọt-Hàm Nghi) chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu xử lý nền đất yếu. Vì vậy, các nhà thầu phải chủ động làm việc với các cơ quan của địa phương để hoàn thiện thủ tục khai thác các mỏ cấp mới, đáp ứng tiến độ yêu cầu.

Thậm chí, một số dự án thành phần thừa khối lượng đất đào nền đường, phải vận chuyển đổ đi, trong khi đó một số dự án khác không đủ vật liệu đất đắp khi điều phối từ nền đào nên phải khai thác đất tại các mỏ về để đắp.

Tuy nhiên, theo báo cáo của các chủ đầu tư, việc triển khai các thủ tục để điều phối giữa các dự án thành phần tại địa phương gặp khó khăn do việc điều phối chưa rõ áp dụng cho từng dự án thành phần hay cho toàn dự án.