Tình hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam – Cuba

0 Nguyễn Thủy (Tổng hợp)
ANTD.VN - “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu mình” – câu nói bất hủ của Chủ tịch Fidel Castro đã in sâu vào trái tim người dân Việt Nam và càng làm bền chặt hơn tình hữu nghị, tình anh em, tình đồng chí giữa Việt Nam – Cuba trong những năm tháng khó khăn nhất. Và hơn nửa thế kỷ trải qua bao thăng trầm, mối quan hệ thủy chung gắn bó giữa hai người anh em ở hai bán cầu trái đất ngày càng bền chặt, sâu sắc và nồng ấm hơn.

 Đồng hành cùng nhau trong những chặng đường lịch sử

Theo QĐND, Việt Nam và Cu-ba đã cùng gắn bó với nhau trong những chặng đường gian khó nhất. Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam cũng là thời kỳ giữ gìn và từng bước củng cố độc lập dân tộc của nhân dân Cu-ba (1959-1975). Trong hoàn cảnh lịch sử đó, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ý thức được rằng, Cách mạng Việt Nam càng giành được thắng lợi, càng tạo hậu thuẫn cho quá trình cách mạng thế giới và Cu-ba.

Ngược lại, cách mạng Cuba càng vững, Cuba càng có điều kiện ủng hộ một cách hiệu quả cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, Việt Nam trước sau như một triệt để ủng hộ những cải cách kinh tế-xã hội sâu sắc, nhất trí với quan điểm của Cuba trong việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhất trí với Cuba trong những vấn đề quốc tế…

Nhận thức được vai trò, vị trí của cách mạng Việt Nam và cách mạng Cuba trong cách mạng giải phóng dân tộc, Cuba đã thể hiện tình đoàn kết và sự ủng hộ của mình đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam một cách triệt để và kịp thời nhất.

Tháng 9-1973, Chủ tịch Fidel Castro là nguyên thủ nước ngoài đầu tiên thăm Việt Nam và vùng giải phóng miền Nam kể từ sau khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Câu nói nổi tiếng của người đứng đầu Đảng và Nhà nước Cuba Fidel Castro “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” trở thành mệnh lệnh đối với mỗi người dân Cuba và làm rung động trái tim mỗi người dân Việt Nam.

Từ “đôi mắt xanh” của “vị thánh tông đồ của nền độc lập dân tộc”

Theo thông tin trên VOV, với những người yêu chuộng hòa bình, José Martí là một cái tên không xa lạ. Ông sinh ngày 28-1-1853 tại La Habana, là nhà tư tưởng, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà cách mạng kiên cường của Cuba và Mỹ Latinh. Ông là người phát động và lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Cuba vào cuối thế kỷ 19 và hy sinh trên chiến trường ngày 19-5-1895. Nhân dân Cuba tôn vinh ông là “vị thánh tông đồ của nền độc lập dân tộc”.

Nhiều người Việt Nam còn biết đến José Martí bởi một sự trùng hợp thú vị khác của lịch sử: Ngày 19-5-1895, José Martí, anh dũng hy sinh khi đang ngồi trên mình ngựa xông ra trận chiến đấu chống quân thực dân Tây Ban Nha. 5 năm trước đó (năm 1890), cũng ngày 19-5, Hồ Chí Minh, con người vĩ đại của nhân dân Việt Nam cất tiếng chào đời.

 

Chủ tịch Fidel Castrol với các chiến sỹ đoàn Khe Sanh, Quân Giải phóng Trị Thiên Huế,trong chuyến thăm vùng giải phóng Quảng Trị năm 1973

Tuy nhiên, không nhiều người biết rằng, chính nhà cách mạng kiệt xuất này với bài viết “Cuộc dạo chơi trên đất nước của người An Nam” (in trên tạp chí Tuổi Vàng của Mỹ năm 1889) về cuộc sống lao động cần cù, sáng tạo, với nền văn hóa lâu đời, phong phú, nêu bật tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam cùng niềm tin tất thắng vào cuộc đấu tranh đó đã được xem là người Mỹ Latinh đầu tiên “phát hiện ra Việt Nam” và là “người Cuba đầu tiên gieo hạt giống cho tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam - Cuba”.

Tới mối quan hệ hữu nghị đặc biệt

Từ hạt giống lành của nhà cách mạng lỗi lạc José Martí, mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cuba đã lớn mạnh không ngừng. Nhiều học giả Cuba và Việt Nam đều cho rằng, dường như lịch sử đã khéo lựa chọn, giao phó cho Hồ Chí Minh tiếp nối sứ mệnh mà José Martí chưa hoàn thành, nhằm giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Trong một thời gian dài cho đến năm 1892, José Martí đã hoạt động ráo riết để sáng lập Đảng Cách mạng Cuba (tiền thân của Đảng Cộng sản Cuba ngày nay), thì đầu thế kỷ XX, vào năm 1930, Hồ Chí Minh chính là người đã tổ chức, rèn luyện và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam…

Cùng chung một lý tưởng, một đích đến… Việt Nam - Cuba ngày thêm gắn bó, đồng cảm, chia sẻ… Chỉ chưa đầy một năm sau ngày cách mạng Cuba thành công (ngày 1-1-1959), giữa thời điểm chỉ có một số ít các quốc gia trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ cộng hòa (VNDCCH), giữa vô vàn e dè, ngại ngần, thậm chí xa lánh…, trong bối cảnh toàn bộ Mỹ Latinh đang chịu sự chi phối và bị coi là khu vực “sân sau” của Mỹ, ngày 2-12-1960, Cộng hòa Cuba đã là quốc gia đầu tiên ở Mỹ Latinh thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với VNDCCH.

Cuba cũng là nước Mỹ Latinh đầu tiên trên thế giới công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (năm 1962) và thành lập Ủy ban toàn quốc đoàn kết với nhân dân miền Nam Việt Nam (năm 1963); là một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và cũng là nước đầu tiên đặt “Đại sứ quán trong rừng” ở Tây Ninh (năm 1969…

Trân quý vô cùng là tình cảm ấy không chỉ hiện diện trên những tờ quyết định, trong những lời nói tưởng chừng mang tính ngoại giao đơn thuần… Càng trong gian khó, kìm kẹp, cản trở, bất chấp những biến thiên của thế sự, bất chấp khoảng cách địa lý “đường xa vạn dặm”…, tình cảm ấy chưa một thời khắc nào phai nhạt, mà ngược lại, càng trở nên sâu đậm, tựa “tri kỷ”.

Những năm 1960, 1970, khó khăn đầy ắp, nhưng trong thời kỳ gian khổ nhất của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba đã luôn luôn đồng hành, chắt chiu dành cho Việt Nam sự ủng hộ lớn nhất có thể, cả về vật chất lẫn tinh thần.

Một phong trào quần chúng rộng rãi ủng hộ Việt Nam đã được triển khai khắp Cuba; Ðài phát thanh La Habana đã dành riêng một kênh phát bằng tiếng Anh sang Mỹ để giới thiệu với nhân dân Mỹ về tình hình Việt Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, góp phần cùng Việt Nam tranh thủ dư luận tiến bộ Mỹ, ủng hộ Việt Nam, đòi chấm dứt chiến tranh. Cuộc sống vật chất còn thiếu thốn trăm bề là thế nhưng ước tính những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, Cuba đã giúp Việt Nam hàng vạn tấn đường và bán số đường đó lấy ngoại tệ để gửi cho Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trong một cuộc mít tinh quần chúng với hàng chục vạn người tham gia tại thủ đô La Habana, Fidel Castro đã nói: “Đáng tiếc là chúng ta - những người Cuba - không có đủ đường sữa để gửi cho nhân dân Việt Nam, chứ nếu có, không những đường sữa mà cả máu chúng ta cũng sẵn sàng hiến dâng cho nhân dân Việt Nam”. Năm 1967 được Cuba đặt tên là “Năm Việt Nam Anh hùng”. Cuba đã nhận hàng nghìn sinh viên Việt Nam sang đào tạo ở nhiều ngành khác nhau.

Giữa lúc Mỹ đang tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, nhiều kỹ sư, công nhân và nhiều bác sĩ, nhân viên y tế Cuba đã sang giúp chữa trị cho các nạn nhân chiến tranh. Bất chấp sự phong tỏa bằng bom, mìn của đế quốc Mỹ, các tàu Cuba vẫn cập cảng Hải Phòng vận chuyển hàng cứu trợ của nhân dân Cuba giúp người dân Việt Nam. Fidel không chỉ một lần khẳng định: “Tình đoàn kết của chúng ta, niềm tin của chúng ta đối với nhân dân Việt Nam và ban lãnh đạo Việt Nam là vô điều kiện và tuyệt đối”.

Chiến tranh kết thúc, Cuba cũng là nước có vai trò rất quan trọng trong việc vận động các nước Mỹ Latinh ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc tại Khóa họp 32 Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1977. Trong suốt thập niên 80 thế kỷ XX, khi cả hai nước phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, Cuba cũng là nước Mỹ Latinh duy nhất kề bên Việt Nam cùng chống lại chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ.

Cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi

Theo thông tin trên báo tin tức, vào tháng 9-1973, Chủ tịch Fidel Castro và đoàn công tác Cuba đã có chuyến thăm đặc biệt tới vùng giải phóng miền Nam Việt Nam, đến với tuyến lửa Quảng Bình, Quảng Trị. Trong suốt chuyến thăm, Chủ tịch Fidel Castro rất xúc động trước những đau thương, mất mát và thiếu thốn mà quân dân Việt Nam đang phải gánh chịu, ông đã quyết định xây tặng một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh tại Đồng Hới với những trang thiết bị đồng bộ, hiện đại nhất thời bấy giờ.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và đồng chí Fidel Castro, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Thủ tướng Chính phủ Cách mạng Cuba thăm thị trấn Đông Hà (Quảng Trị) bị chiến tranh phá hủy, đang được khôi phục lại (tháng 9-1973). Ảnh tư liệu: TTXVN

Với tinh thần "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình" đã được thể hiện cụ thể trong từng cử chỉ, việc làm của Chủ tịch Fidel Castro. Đúng ngày 19-5-1974, kỷ niệm 84 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, hơn 100 chuyên gia, kỹ sư, công nhân Cuba trong đội quân xây dựng quốc tế Nguyễn Viết Xuân cùng với công nhân Việt Nam đã khởi công xây dựng bệnh viện. Trong quá trình thực hiện công trình, toàn bộ thiết bị, vật tư máy móc, lương thực thực phẩm… đều được vận chuyển từ Cuba sang Đồng Hới và là những thứ tốt nhất, chất lượng, hiện đại nhất. Các kỹ sư, cán bộ và công nhân Cuba đều là những người tài giỏi, có năng lực sang trực tiếp hướng dẫn và tham gia thực hiện công trình.

Ông Đặng Đức Dục nguyên Giám đốc Sở Xây dựng Quảng Bình nhớ lại: “Hồi ấy, chiến tranh vẫn ác liệt, lương thực gạo cơm thiếu thốn, chế độ ăn uống của anh em cán bộ, công nhân còn kham khổ, nhiều bữa cơm phải độn khoai, sắn mới ấm bụng. Các bạn Cuba chân tình, sẵn sàng san sẻ phần ăn của mình, chia đôi mỗi hộp sữa, từng mẩu bánh mì cho cán bộ, công nhân của ta. Họ rất thương quý và dành tặng quà, bánh kẹo cho các cháu nhỏ tại các trường mầm non gần công trường. Tình cảm ấy thương và quý lắm!”

Trải qua 7 năm miệt mài lao động với bao công sức, trí tuệ, mồ hôi, công trình đã được khánh thành vào ngày 9-9-1981. Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới khi đưa vào sử dụng có quy mô 462 giường bệnh và trang thiết bị đồng bộ, hiện đại bậc nhất thời bấy giờ; có 19 khoa lâm sàng, cận lâm sàng; 7 phòng chức năng với đủ số lượng cán bộ để tiếp quản bệnh viện.

Sự kiện này đã mở ra một chặng đường mới trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân của cán bộ, viên chức ngành Y tế Quảng Bình. Đây còn là biểu tượng tuyệt đẹp của tình hữu nghị anh em, tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước.

Tình cảm anh em, tình hữu nghị đặc biệt

Trải qua hơn nửa thế kỷ tình cảm anh em, tình bạn bè, tình đồng chí đã gắn kết hai đất nước ở hai bán cầu xích lại gần nhau. Đồng hành cùng nhau trong những năm tháng khó khăn nhất, chia sẻ cùng nhau từ những vật dụng nhỏ nhất đã khiến cho tình cảm ấy càng trở nên keo sơn, gắn bó như anh em một nhà. “Mối quan hệ đặc biệt, không có tiền lệ, là hình mẫu của quan hệ quốc tế”. Trải qua bao thăng trầm, thời gian trôi đi thế sự thêm nhiều biến thiên, nhưng với đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ tình cảm sâu đậm và những sự giúp đỡ vô giá mà nhân dân Cuba đã dành cho mình.

Theo VOV, luôn khắc ghi đạo lý ấy, ơn nghĩa ấy, mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam từ lâu đã coi việc đoàn kết, ủng hộ và hợp tác với Cuba là một nguyên tắc, một mệnh lệnh của trái tim. Khi Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu sụp đổ, Mỹ siết chặt cấm vận, lại bị thiên tai tàn phá liên tiếp, Cuba đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăn của thời kỳ đặc biệt, thời kỳ khó khăn nhất kể từ khi cách mạng thành công, Việt Nam đã dành cho đất nước anh em sự ủng hộ hết lòng: tổ chức các đợt quyên góp gạo, quần áo, đồ dùng học tập cho học sinh, máy tính, một số mặt hàng tiêu dùng cần thiết khác, gửi sang giúp Cuba. Tới thời điểm này, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ hai trong khu vực châu Á và châu Đại Dương của Cuba, là nhà cung cấp gạo chính cho Cuba.

 

Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Cuba ngày càng bền chặt

Giờ đây, khi hai nước nói riêng và thế giới nói chung bước vào giai đoạn phát triển mới, Đảng và Nhà nước hai nước Việt Nam - Cuba đều nhận thức rõ mối quan hệ hợp tác giữa hai nước vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và cần phải được nâng lên tầm cao mới.

Nói về mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cuba, có ai đó đã viết rằng: mối quan hệ gắn bó, thủy chung giữa Việt Nam và Cuba là thứ tình cảm hết sức “vi diệu” đã nảy sinh giữa hai dân tộc mà lý thuyết nào về quan hệ quốc tế cũng không giải thích nổi. Và mối quan hệ ân tình đặc biệt ấy, sẽ còn mãi không phai, bất chấp thời gian và không gian.

bình luận(0 bình luận)

Top