Vợ có thể yêu cầu tăng cấp dưỡng hoặc nhường lại quyền nuôi con cho chồng cũ?

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam
ANTD.VN - Bạn đọc hỏi: Vợ chồng tôi ly hôn cách đây 5 năm. Thời điểm đó, do 2 con còn nhỏ nên tôi nhận nuôi cả 2 cháu, chồng tôi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy vậy, gần đây do việc làm ăn gặp nhiều khó khăn, thu nhập giảm sút, tôi không còn khả năng tài chính để lo cho các con. Xin hỏi luật sư, theo quy định hiện hành, tôi có được yêu cầu chồng cũ tăng tiền cấp dưỡng hoặc nhường lại quyền nuôi con cho bố các cháu? Chồng cũ của tôi có được phép đến chỗ ở của tôi để kiểm tra, quấy rối? Lê Thanh Hương (Quảng Ninh)
Vợ có thể yêu cầu tăng cấp dưỡng hoặc nhường lại quyền nuôi con cho chồng cũ? ảnh 1

Luật sư Lê Hồng Vân (Đoàn Luật sư TP Hà Nội)

Luật sư Lê Hồng Vân trả lời: Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau: Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi có một trong hai căn cứ nêu trên thì cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Tuy vậy, với con từ đủ 7 tuổi trở lên, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải phụ thuộc, suy xét vào ý nguyện của con. Trường hợp xét thấy cả hai bên cha mẹ đều thiếu điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án sẽ đưa ra quyết định giao con cho người giám hộ căn cứ theo các quy định được ghi của Bộ luật dân sự.

Về thủ tục thay đổi người trực tiếp nuôi con, người muốn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn phải gửi hồ sơ tới Tòa án nhân dân quận/huyện nơi mà người kia cư trú, làm việc để được giải quyết theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Hồ sơ gồm: Đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thỏa thuận đổi người trực tiếp nuôi con; Bản án ly hôn; Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân (bản sao có công chứng); Giấy khai sinh của con (bản sao có công chứng); Các căn cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu muốn thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Nếu chồng cũ không đồng ý nhận nuôi hai cháu thì bạn có thể yêu cầu anh ấy tăng mức trợ cấp hàng tháng cho hai cháu. Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định, mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vợ có thể yêu cầu tăng cấp dưỡng hoặc nhường lại quyền nuôi con cho chồng cũ? ảnh 2

Có thể yêu cầu Tòa án giải quyết nếu cá nhân không thỏa thuận được mức cấp dưỡng nuôi con hàng tháng (Ảnh minh họa)

Như vậy, pháp luật hiện hành không quy định mức cấp dưỡng cụ thể, không có giới hạn của số tiền phải cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng tùy thuộc vào thu nhập, khả năng thực tế của người phải cấp dưỡng và cả nhu cầu thiết yếu của con. Nghĩa là, khi thu nhập của người phải cấp dưỡng tăng hoặc nhu cầu thiết yếu của con - người được cấp dưỡng tăng thì mức cấp dưỡng có thể được điều chỉnh tăng theo. Có hai cách để yêu cầu được tăng mức cấp dưỡng nuôi con khi đã giải quyết xong việc ly hôn. Đó là, thỏa thuận với người cấp dưỡng về việc tăng tiền cấp dưỡng nuôi con hoặc nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Còn về việc chồng cũ thường xuyên tự ý ra vào chỗ ở của bạn, Điều 22 Hiến pháp 2013 quy định công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Việc khám xét chỗ ở do luật định. Bên cạnh đó, Điều 158 Bộ luật Hình sự 2015 nêu rõ, người nào thực hiện hành vi xâm nhập trái phép chỗ ở của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Phạm tội hai lần trở lên; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự… thì bị phạt tù từ 1 đến 5 năm.