Kinh doanh

Việt Nam đang tham gia những Hiệp định thương mại tự do nào?

Hà Linh
ANTD.VN -  Kể từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, tới nay Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA).
Việt Nam đang tham gia những Hiệp định thương mại tự do nào? ảnh 1

Các FTA đang dần được khai thác hiệu quả hơn

Khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA) là FTA đầu tiên Việt Nam tham gia, là cột mốc giúp chúng ta hội nhập kinh tế sâu rộng, và cũng là bước đột phá cho quá trình tham gia các hiệp định FTA sau này.

Kể từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, tới nay Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Trong số 13 FTA đã ký kết và 3 FTA đang đàm phán (gồm: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực – RCEP giữa 10 nước ASEAN với 6 nước đối tác gồm Australia, New Zealand, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ; FTA giữa Việt Nam với Khối Thương mại tự do Châu Âu (EFTA) gồm: Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein; và FTA giữa Việt Nam và Israel.

Bên cạnh các Hiệp định FTA thế hệ mới (EVFTA và CPTPP), Việt Nam đang thực hiện 11 FTA khác, trong đó, AFTA (sau này là Hiệp định CEPT/ATIGA) có tỷ lệ xoá bỏ thuế quan cao nhất là 98% với lộ trình thực hiện là 19 năm (nếu tính cả mặt hàng xăng dầu, lộ trình này là 25 năm).

Trong khi đó, FTA ASEAN-Ấn Độ có tỷ lệ xoá bỏ thuế quan thấp nhất là 74% với lộ trình thực hiện là 14 năm. Các FTA còn lại có tỷ lệ xoá bỏ thuế quan trong khoảng 86-93% với lộ trình thực hiện từ 11-17 năm.

Cũng trong số 11 FTA này, Hiệp định CEPT/ATIGA sẽ được hoàn thành xoá bỏ thuế quan sớm nhất - vào năm 2018 (trừ mặt hàng xăng dầu đến 2024 thuế suất mới giảm xuống 0%) do đây là FTA được Việt Nam thực hiện đầu tiên (từ năm 1999).

Các FTA mà Việt Nam được hoàn thành xoá bỏ thuế quan muộn nhất là FTA Việt Nam-Chi Lê và FTA Việt Nam-Hàn Quốc (đều vào năm 2029). Các FTA còn lại phải hoàn thành xoá bỏ thuế quan trong khoảng thời gian từ năm 2020-2027.

Về kết quả thực hiện FTA trong lĩnh vực kinh tế, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường có FTA năm 2019 là 123,11 tỷ USD. Trong khi đó, năm 2004, Việt Nam mới có hai đối tác FTA là ASEAN và Trung Quốc với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 7 tỷ USD.

Xét về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân sang các thị trường đối tác FTA kể từ khi có Hiệp định FTA thì Ấn Độ đạt bình quân 35,7%/năm, Hàn Quốc đạt 29,2%/năm, Chi-lê 28,9%/năm và Trung Quốc 20,9%/năm. Tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam sang các thị trường đối tác FTA của Việt Nam năm 2019 là 186 tỷ USD. Trong khi đó, năm 2004, Việt Nam mới có hai đối tác FTA là ASEAN và Trung Quốc với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 12,4 tỷ USD.

Như vậy, về tổng thể chúng ta vẫn nhập siêu từ các thị trường có FTA do hai thị trường nhập khẩu lớn nhất hàng Việt Nam là Hoa Kỳ và EU chúng ta đều chưa có FTA được đưa vào thực thi (dự kiến sẽ có cải thiện khi Hiệp định EVFTA được thực thi).

Tổng kim ngạch xuất khẩu sử dụng các loại chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi theo FTA năm 2019 đạt 47,55 tỷ USD, chiếm 37,2% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường Việt Nam ký FTA. Năm 2019, ta đã cấp hơn 1 triệu bộ C/O ưu đãi (bao gồm theo FTA và GSP) với trị giá 61,19 tỷ USD. Theo Bộ Công Thương, mức tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi 37,2% phản ánh doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam đang dần nâng cao tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan tại các thị trường có FTA với Việt Nam trong những năm qua.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC