Kinh doanh

Vì sao Ngân hàng Nhà nước không bỏ “room” tín dụng?

Nhật Linh
ANTD.VN - Nhiều ý kiến cho rằng Ngân hàng Nhà nước nên thay việc quản lý bằng biện pháp hành chính là cấp “room” tín dụng bằng việc quản lý hệ số an toàn vốn, vừa đảm bảo an toàn, vừa phù hợp với chuẩn Basel II và thông lệ quốc tế.

Nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN)đã sử dụng hạn mức (room) tín dụng như một công cụ trong điều hành tín dụng nền kinh tế. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này có nhiều ý kiến cho rằng đã đến lúc cơ quan điều hành cần bỏ cách quản lý mang tính hành chính này.

Tại phiên thảo luận về kinh tế - xã hội Kỳ họp thứ 1, Quốc hội khóa XV, đại biểu Nguyễn Thị Mai Phương - Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai đã đóng góp ý kiến về hoạt động của ngành ngân hàng.

Theo đó, ĐBQH này cho rằng cần có những biện pháp, những chính sách, cơ chế tạo động lực cho doanh nghiệp trong nước, nhất là để doanh nghiệp tư nhân được thuận lợi vay vốn, đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng.

Vị đại biểu đề nghị NHNN cần xem xét trong thời gian tới thay việc quản lý bằng biện pháp hành chính là cấp “room” tín dụng bằng việc quản lý hệ số an toàn vốn, vừa đảm bảo an toàn, vừa phù hợp với chuẩn Basel II và thông lệ quốc tế.

Vì sao Ngân hàng Nhà nước không bỏ “room” tín dụng? ảnh 1

Ngân hàng Nhà nước phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng ngân hàng

Trong văn bản trả lời ĐBQH, Thống đốc NHNN cho rằng trong điều kiện hiện nay, việc điều hành bằng “room” tín dụng vẫn là cần thiết.

Thống đốc NHNN cho biết, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thị trường vốn, thị trường chứng khoán có vai trò chủ đạo cung cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế, hệ thống ngân hàng chủ yếu cung cấp vốn ngắn hạn.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, do thị trường vốn, thị trường chứng khoán còn chưa phát triển đúng với vai trò, vị thế của mình, nên việc cân đối vốn cho nền kinh tế (đặc biệt là vốn trung dài hạn) vẫn dựa nhiều vào vốn ngân hàng, từ đó luôn tiềm ẩn rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng (huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn), kéo theo sức ép và rủi ro lên hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD).

Hiện nay, tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn của Việt Nam hiện vẫn ở mức khá cao và có xu hướng tăng, quy mô tín dụng đã rất lớn (theo như khuyến cáo của Ngân hàng thế giới).

“Tăng trưởng tín dụng quá cao không chỉ tiềm ẩn rủi ro bất ổn vĩ mô chung cho nền kinh tế mà còn gia tăng rủi ro đối với từng tổ chức tín dụng, ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống ngân hàng. Đây cũng là bài học kinh nghiệm cho ngành ngân hàng sau giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng, dẫn đến những hệ lụy phải xử lý nợ xấu, tái cơ cấu các tổ chức tín dụng” – NHNN cho hay.

Chính vì vậy, để đảm bảo an toàn hệ thống, kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, thời gian qua, NHNN kiên định kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng theo hướng đưa ra chỉ tiêu tín dụng định hướng đầu năm và thông báo cho từng TCTD.

Việc thông báo hạn mức tín dụng đầu năm và điều chỉnh (khi cần thiết) đối với các TCTD được thực hiện theo nguyên tắc, TCTD có tình hình hoạt động an toàn, lành mạnh hơn sẽ được NHNN xem xét phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn, qua đó, thúc đẩy TCTD nâng cao năng lực quản trị, điều hành, tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động và các chỉ số an toàn hoạt động.

Bên cạnh đó, NHNN cũng xem xét một số yếu tố như mặt bằng lãi suất huy động, cho vay, tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và việc thực hiện theo chuẩn mực Base II, đảm bảo thực hiện đúng chủ trương của Chính phủ và NHNN về tập trung tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất cho vay.

“Đối với ý kiến sử dụng việc quản lý hệ số an toàn vốn thay việc quản lý room tín dụng, NHNN xin trân trọng ghi nhận và giao các đơn vị chức năng nghiên cứu, đánh giá tác động và khả năng áp dụng, đảm bảo việc điều hành tín dụng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô nhưng vẫn giữ vững an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại” – NHNN cho biết.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC