Kinh doanh

Tổng cục Thuế: Ngân hàng cung cấp thông tin tài khoản người nộp thuế không có gì khó!

Hà Loan

ANTD.VN - Đại diện Tổng cục Thuế cho biết, hiện nay, cơ quan thuế đã phối hơp cung cấp cho các ngân hàng mã số thuế của người nộp thuế nên việc các ngân hàng cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế cho cơ quan thuế là vấn đề hợp tác về cơ sở dữ liệu bình thường và hoàn toàn làm được.

Tại buổi họp báo chuyên đề giải đáp các nội dung trong Nghị định số 126/2020/NĐ-CP chiều nay, 1/12, một trong những nội dung được quan tâm là quy định ngân hàng thương mại (NHTM) sẽ phải cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế cho cơ quan thuế.

Thông tin về vấn đề này, ông Lưu Đức Huy, Vụ trưởng Vụ Chính sách (Tổng cục Thuế) cho biết tại Luật Quản lý thuế số 38 có quy định về trách nhiệm của NTHM trong việc cung cấp thông tin về số hiệu tài khoản theo mã số thuế của người nộp thuế khi mở tài khoản và khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp theo quy định pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử có phát sinh thu nhập từ Việt Nam.

Căn cứ theo quy định tại Luật Quản lý thuế, tại Nghị định số 126 (Khoản 2, Khoản 3 Điều 30) có quy định: Ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp các thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế, bao gồm: tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo mã số thuế đã được cơ quan quản lý thuế cấp, ngày mở tài khoản, ngày đóng tài khoản.

Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin và hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự an toàn của thông tin theo quy định của Luật Quản lý thuế và quy định của pháp luật có liên quan.

Theo ông Lưu Đức Huy, theo quy định này, NHTM sẽ chỉ cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản thanh toán và chỉ cung cấp những thông tin định danh cơ bảncơ bản như vậy, không bao gồm các thông tin liên quan đến giao dịch của các tài khoản này.

“Khi hoạt động thanh toán mà doanh thu không phát sinh như các hoạt động kinh doanh truyền thống thì cơ quan thuế phải thông qua các ngân hàng để quản lý dòng tiền, và kinh nghiệm quốc tế là phải quản lý được tài khoản của người nộp thuế.

Chẳng hạn ở Ba Lan, mọi giao dịch của doanh nghiệp thì ngân hàng phải có trách nhiệm gửi cho cơ quan thuế và cơ quan thuế phải có trách nhiệm phân tích xem các hoạt động nào có rủi ro về thuế hay không. Ở Việt Nam Quốc hội đã cho phép và Chính phủ đã quy định chi tiết, mức độ cung cấp chỉ giới hạn ở những thông tin định danh như vậy” – ông Lưu Đức Huy nói.

Tổng cục Thuế: Ngân hàng cung cấp thông tin tài khoản người nộp thuế không có gì khó! ảnh 1

Đại diện Tổng cục Thuế thông tin về các nội dung liên quan Nghị định 126

Thông tin thêm về vấn đề này, ông Đặng Ngọc Minh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết, hiện nay cơ quan thuế cũng đã phối hơp cung cấp cho các ngân hàng mã số thuế của người nộp thuế nên việc các ngân hàng cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế cho cơ quan thuế là vấn đề hợp tác về cơ sở dữ liệu bình thường và hoàn toàn làm được.

Ông Minh cũng cho rằng thực tế thì các ngân hàng hoàn toàn làm được việc này. Năm 2016, bản thân các NHTM cũng đã kiến nghị với NHNN ký hiệp định trao đổi thông tin tài khoản của tổ chức, cá nhân là người Hoa Kỳ hoặc cư trú tại Hoa Kỳ với nước này. Theo đó, các NHTM không chỉ cung cấp các thông tin định danh mà còn cung cấp cả các giao dịch về tài sản của những cá nhân, doanh nghiệp đó để cung cấp cho cơ quan thuế tại Mỹ. Hiệp định đó giờ vẫn có hiệu lực.

“Bây giờ Chính phủ mới có quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của các NHTM nhưng thực ra từ 2016, các NHTM đã có khả năng theo dõi, cung cấp các thông tin tài khoản cá nhân, doanh nghiệp của Hoa Kỳ cung cấp cho cơ quan thuế của họ. Vì vậy, tôi nghĩ việc Chính phủ yêu cầu NHTM cung cấp thông tin cho cơ quan thuế trong nước ko có gì quá khó khăn” – ông Minh nói.

Riêng quy định “NHTM có trách nhiệm cung cấp thông tin giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản, số liệu giao dịch theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế để phục vụ cho mục đích thanh tra, kiểm tra xác định nghĩa vụ thuế phải nộp và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định của pháp luật về thuế”, theo đại diện Tổng cục Thuế, đây không phải quy định mới.

“Thực tế, quy định này đã có trong Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 trước đây, khi phục vụ cho quá trình thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm hoặc phục vụ các biện pháp cưỡng chế thuế… thì cơ quan thuế sẽ có văn bản yêu cầu NHTM cung cấp các thông tin như số dư, các giao dịch của người nộp thuế thuộc đối tượng này” – ông Lưu Đức Huy thông tin.

Với quy định NHTM khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân ở Việt Nam (gọi chung là nhà cung cấp ở nước ngoài), đại diện Tổng cục Thuế cho biết quy định này chỉ áp dụng với nhà cung cấp nước ngoài không thực hiện đăng ký thuế, nộp thuế tại Việt Nam; và cũng chỉ thực hiện đói với bên mua hàng là các cá nhân.

“Đối với tổ chức mua hàng hóa của các nhà cung cấp nước ngoài này thì sẽ phải tự khấu trừ nghĩa vụ thuế, còn riêng đối với cá nhân thì thông qua biện pháp khấu trừ” – ông Lưu Đức Huy cho hay.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC