Chính trị - Xã hội

Thế chấp bằng niềm tin

Đan Thanh
ANTĐ - Mọi chính sách của Chính phủ hiện nay là hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trở lại.

Cách đây gần nửa năm lại phải làm ngược lại là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, theo một số chuyên gia, lẽ ra phải được thực hiện sớm hơn từ quý IV năm ngoái, với liều lượng tăng dần. Có như vậy, cái giá phải trả sẽ ít hơn nhiều. Còn hiện tại, hàng chục nghìn doanh nghiệp đã “chết” trước khi được cứu, tính sơ bộ có 2-3 triệu lao động thất nghiệp. Các doanh nghiệp còn lại phần lớn rơi vào khó khăn, thu nhập người lao động èo uột.

Nền kinh tế là một chuỗi các giá trị gắn kết, không thể chỉ “kích” vào con gà hay quả trứng và cũng khó có thể cùng một lúc “dựng” các doanh nghiệp đứng dậy. Theo phân tích của một tiến sĩ, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, gói hỗ trợ được thị trường trông đợi nhất liên quan đến các chính sách nới lỏng tiền tệ. Bao gồm: áp dụng trần cho vay đối với một số lĩnh vực; mở rộng tín dụng bất động sản; hạ mặt bằng lãi suất và phân loại doanh nghiệp để tái cơ cấu. Gói chính sách tiền tệ lại phụ thuộc vào sự hưởng ứng của các ngân hàng thương mại, song sự hưởng ứng không mấy “vồ vập” vì đôi bên đều trông chừng nhau, giữa ngân hàng với doanh nghiệp cũng như ngân hàng với nhau. Bằng chứng là các ngân hàng thương mại đang thừa tiền, doanh nghiệp thì thiếu tiền nhưng hai bên không thể gặp nhau, “bắt tay” nhau. Thị trường ngân hàng dường như rơi vào tình trạng “đóng băng” về tín dụng.

Theo số liệu thống kê trong ngành, đến hết quý I-2012, tăng trưởng tín dụng âm gần 2%; tăng trưởng tiền gửi ở mức rất thấp dưới 1,5%. Hiện tại, không ít ngân hàng dư thừa vốn như ngân hàng ACB dư thừa ít nhất 50.000 tỷ đồng, các ngân hàng thương mại quốc doanh lớn dư thừa hàng trăm nghìn tỷ, thế nhưng lại không cho vay được. Trong khi đó, những ngân hàng nhỏ, yếu kém vẫn lao đao về thanh khoản.

Còn đối với các doanh nghiệp, mối quan hệ của họ với ngân hàng lại phụ thuộc vào thời gian “quen biết” và uy tín của doanh nghiệp. Nghĩa là một doanh nghiệp thường xuyên sử dụng dịch vụ ngân hàng, có khi là chủ nợ của ngân hàng sẽ được “đối xử” khác với doanh nghiệp nhỏ không có tài sản thế chấp. Thực ra, dù có tài sản thế chấp, khả năng thương lượng của doanh nghiệp cũng không dễ. Cho dù có đặt trần lãi suất vay thì ngân hàng vẫn có thể yêu cầu thêm các khoản phí, thậm chí tăng phí mà doanh nghiệp cần phải “gượng cười” khi đã lâm vào thế chân tường. Một số chuyên gia ngân hàng cho rằng, việc thu phí là “chuyện riêng” giữa ngân hàng và khách hàng, các cơ quan quản lý không thể đặt camera theo dõi được.

Tổng giám đốc một ngân hàng lớn cũng thừa nhận, ngân hàng đòi hỏi tài sản thế chấp mỗi khi doanh nghiệp vay thì họ lấy đâu ra tài sản? Các doanh nghiệp lớn dù có lỗ cũng chưa thể “chết” ngay được. Chỉ những “anh” nhỏ yếu nếu không được “hà hơi, tiếp sức” thì sẽ... tắc tử ngay. Trong tình thế hiện nay, các ngân hàng thận trọng là dễ hiểu, bởi họ không muốn gánh thêm nợ xấu, còn nhiều doanh nghiệp thì khả năng trả nợ gần như không có.

Khi cho vay mà không có sự hiểu biết lẫn nhau, ngân hàng đòi tài sản thế chấp là đương nhiên. Song tài sản thế chấp là bất động sản cũng đóng băng, là hàng tồn kho, nguyên phụ liệu đã mất hết ý nghĩa so với trước. Kinh doanh phải dựa trên niềm tin, nhưng niềm tin phải được xây dựng trên một hệ thống đánh giá tín dụng doanh nghiệp. Đó chính là thế chấp bằng niềm tin.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC