Đời sống

Hướng dẫn mới nhất của Bộ Công an về thời hạn của giấy xác nhận thông tin cư trú

H.L
ANTD.VN - Theo Thông tư 55/2021/TT-BCA của Bộ Công an hướng dẫn chi tiết nhiều quy định mới của Luật Cư trú 2020, người dân có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký cư trú xác nhận thông tin về cư trú. Giấy xác nhận thông tin này có giá trị tới 6 tháng.

Điều 17 Thông tư 55/2021/TT-BCA quy định, công dân yêu cầu xác nhận thông tin về cư trú có thể trực tiếp đến cơ quan đăng ký cư trú trong cả nước không phụ thuộc vào nơi cư trú của công dân để đề nghị cấp xác nhận thông tin về cư trú hoặc gửi yêu cầu xác nhận thông tin về cư trú qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an, Cổng dịch vụ công quản lý cư trú.

Giấy xác nhận này được cấp dưới hình thức văn bản, có chữ ký và đóng dấu của Thủ trưởng cơ quan đăng ký cư trú hoặc văn bản điện tử có chữ ký số của Thủ trưởng cơ quan đăng ký cư trú theo yêu cầu của công dân gồm thời gian, địa điểm, hình thức đăng ký cư trú.

Về giá trị của giấy xác nhận thông tin cư trú, khoản 2 Điều 17 quy định, giấy này có giá trị trong 30 ngày với trường hợp xác nhận thông tin về cư trú và với người không có nơi thường trú, nơi tạm trú do không đủ điều kiện thì giấy này có giá trị trong vòng 6 tháng.

Trường hợp thông tin cư trú của công dân bị thay đổi, điều chỉnh hoặc được cập nhật trong Cơ sở dữ liệu về cư trú thì giấy xác nhận thông tin về cư trú sẽ hết hiệu lực kể từ thời điểm thay đổi.

Hướng dẫn mới nhất của Bộ Công an về thời hạn của giấy xác nhận thông tin cư trú ảnh 1

Nhiều quy định mới liên quan đến việc đăng ký thường trú, tạm trú sẽ có hiệu lực từ 1-7

Cũng từ 1-7, khi Luật Cư trú 2020 có hiệu lực, việc khai báo tạm vắng sẽ bị “siết” chặt. Theo đó, người dân không khai báo tạm vắng có thể bị xóa hộ khẩu. Điều 31 Luật Cư trú 2020 nêu rõ, công dân có trách nhiệm khai báo tạm vắng trong các trường hợp:

Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đang cư trú từ 1 ngày trở lên đối với bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách...

Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đang cư trú từ 1 ngày trở lên đối với người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc...

Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp huyện nơi đang cư trú từ 3 tháng liên tục trở lên đối với người trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc người đang phải thực hiện các nghĩa vụ khác đối với Nhà nước theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi thường trú từ 12 tháng liên tục trở lên đối với người không thuộc các trường hợp trên, trừ trường hợp đã đăng ký tạm trú tại nơi ở mới hoặc xuất cảnh ra nước ngoài.

Như vậy, một người bình thường đi khỏi nơi thường trú để lao động, học tập, đi du lịch… từ 12 tháng liên tục trở lên phải khai báo tạm vắng (trừ khi họ đã đăng ký tạm trú tại nơi ở mới hoặc đi nước ngoài) tại cơ quan đăng ký cư trú nơi người đó cư trú hoặc khai báo qua điện thoại, phương tiện điện tử hoặc phương tiện khác.

Nếu không thực hiện việc khai báo, công dân có thể bị xóa đăng ký thường trú. Điều 24 Luật này nêu rõ, người vắng mặt liên tục tại nơi thường trú từ 12 tháng trở lên mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác, hoặc không khai báo tạm vắng thì bị xóa đăng ký thường trú (trừ một số trường hợp quy định).

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC