Chuyện cơm bụi xưa

0 Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến
ANTD.VN -Thời Lê, phía Nam kinh thành Thăng Long bao gồm Bạch Mai, Mai Động, Hoàng Mai, Tương Mai ngày nay là vùng trồng mơ, vì thế người ta gọi là Kẻ Mơ. 

Phố Nguyễn Khuyến đến ngã ba Quốc Tử Giám ngày xưa vì có nhiều quán cơm nên được gọi là phố Hàng Cơm

Nhưng mỗi làng trong Kẻ Mơ lại có một nghề riêng. Hoàng Mai chuyên nấu rượu nên có tên Nôm là Mơ Rượu, rượu ở đây nổi tiếng không chỉ Thăng Long mà còn lan ra khắp thiên hạ, thế nên có câu “Rượu Mơ, thơ làng Lủ” (làng Lủ tên chữ là Kim Lũ, nay thuộc phường Đại Kim, quận Hoàng Mai). Mai Động có nghề làm đậu phụ nên gọi là Mơ Đậu, Bạch Mai có nghề bán thịt nên gọi là Mơ Thịt còn Tương Mai bán xôi lúa và bán cơm nhưng thiên hạ không gọi là Mơ Xôi mà lại gọi là Mơ Cơm. Có thể nghề bán cơm có trước hoặc các quán cơm ấy gây chú ý hơn. Không thấy sử sách nào chép nghề bán cơm ở Tương Mai có từ khi nào.

Khi Pháp xây khu lãnh sự ở Đồn Thủy vào năm 1876 thì trước cổng chùa Báo Ân xuất hiện một quán cơm bán cho phu. Đó là quán cơm của ông Hai Phúc, người làng Phúc Lâm (nay là khu vực phố Nguyễn Công Trứ). Song  quán cơm của ông Hai Phúc lại là nơi gặp gỡ của các nhà Nho Hà Nội bàn mưu chống Pháp. Do thiếu cảnh giác nên Hai Phúc bị nghi ngờ và quan Pháp ra lệnh truy lùng, ông buộc phải vào Sài Gòn lẩn tránh. Thấy có vẻ yên, năm 1887, ông bí mật trở ra Hà Nội thăm vợ con và bạn bè. Một hôm Hai Phúc đi qua Bờ Hồ nhìn thấy đầu Nguyễn Cao (bị chém ngày 14-4-1887) bêu hàng Dừa (nay là Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục), Hai Phúc đã cùng hai nhân viên bán quán rượu ở Tràng Tiền ra lấy đầu Nguyễn Cao đem đi chôn. Trong lúc vội vàng, hố chôn chưa phủ kín thì con gái Bá Kim (người được cho là xây Tháp Rùa) là cô Xuyến phát hiện ra. Sau đó cô Xuyến cùng Hai Phúc bí mật chôn cất cẩn thận. Rồi cả hai cùng liên hệ với nghĩa quân Bãi Sậy nhưng bị lộ, Pháp bắt cả hai và tử hình.

Thời Nguyễn, Tương Mai nằm sát đường Thiên Lý, con đường huyết mạch  từ thành Thăng Long vào Huế. Từ trong thành đi về phía Nam hay từ phía Nam vào thành thì quan, quân hay dân muốn “lai kinh” đều nghỉ chân và ăn uống ở Tương Mai trước khi đi tiếp. Quan đi việc công bao giờ cũng kéo theo bầu đoàn gồm lính, phu khiêng cáng, kẻ hầu hạ. Tương Mai trở thành điểm dừng nghỉ ngơi ăn uống vì làng là một trong 54 trạm dịch (đổi ngựa và  phu để chuyển công văn của triều đình) gọi là Hà Mai (các trạm dịch thời Minh Mạng được đặt tên bằng cách lấy chữ đầu tên tỉnh và chữ cuối tên làng).  

Những gì còn sót lại trong dân gian về Mơ Cơm là câu:

“Cơm kia em nấu nồi mười

Cá này niêu đất, rau tươi sanh đồng”.

Mơ Cơm nấu gạo tám làng Định Công (nay là phường Định Công, quận Hoàng Mai), món đậu nướng lấy ở Mơ Đậu, cá Thịnh Liệt, rau muống làng Kim Liên, nghĩa là toàn sản vật trong vùng.

Khi sĩ tử các nơi về trọ học quanh Văn Miếu - Quốc Tử Giám ngày đông đúc thì dân Tương Mai vào mở quán cơm bán cho sĩ tử. Thời Vua Tự Đức, đoạn từ ngã ba Nguyễn Khuyến hiện nay đến ngã ba Quốc Tử Giám vì có nhiều quán cơm nên được gọi là phố Hàng Cơm. Khi Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi nhốt người bị dịch hạch để cách ly đầu thế kỷ XX thì nơi đây trở nên vắng vẻ, sĩ tử sợ chuyển đi nơi khác trọ nên vùng này vắng người, vì thế các quán cơm cũng không có khách. Nhiều người vào phố mở quán bán cho dân các tỉnh nhập cư về Hà Nội làm phu xe, buôn thúng bán bưng. 

Có một quán cơm của người Tương Mai đã đi vào lịch sử là quán cơm Nhiêu Sáu (tên bà là Nguyễn Thị Ba) ở 20 phố Cửa Nam. Sở dĩ quán có tên Nhiêu Sáu vì chồng bà Ba là Đỗ Văn Sáu. Ở làng Tương Mai ông có chức Nhiêu nên gọi là Nhiêu Sáu. Quán cơm Nhiêu Sáu chủ yếu bán cho phu xe, đám hát xẩm, người khiêng vác thuê trong chợ Cửa Nam. Quán lúc nào cũng đông khách vì bán rẻ, một xu là được bữa no (thời kỳ này một cân gạo giá 6 xu), thêm vài trinh nữa là có rượu uống. Lẫn trong khách ăn có cả các nghĩa hưng, họ gặp nhau để bàn bạc một chuyện vô cùng hệ trọng, đó là đầu độc lính Pháp đóng trong thành. Không chỉ các nghĩa hưng, thi thoảng còn có chỉ huy của Đề Thám như: đội Hổ, chánh Tỉnh và một số nhà nho, thầy dạy tiếng Pháp được các binh lính Việt tín nhiệm như ông Đỗ Văn Đàm, ông Quang, ông Đông Châu... Nhưng mưu lớn bị bại lộ. Có một nghĩa hội không giữ được bí mật đã đến xưng tội với cố Ân (tức linh mục Dronet) ở Nhà thờ Lớn.

Ngay sau khi biết chuyện, cố Ân báo ngay cho tướng Belet nên họ đã kịp thời  đối phó. Bà Nhiêu Sáu bị bắt nhưng chồng bà kịp trốn thoát xuống Hải Phòng. Bị tra tấn dã man nhưng bà không khai ai nên mật thám Pháp không thể bắt bớ thêm. Bất lực trước dũng khí của một người phụ nữ kiên gan, mật thám Pháp đã đóng đinh nhọn vào thùng gỗ, nhét bà vào đó và lăn từ phố Cửa Nam về ngục Hỏa Lò. Cuối cùng, bà Nhiêu Sáu chết vì bị tra tấn và bệnh tật trong ngục. Một người làng Tương Mai bán quán gần nhà giam đã  mua chuộc cai ngục cho tráo xác, đưa thi hài bà về quê. Ngay trong đêm, con cháu và hàng xóm đã âm thầm nuốt nước mắt tiếc thương tiễn đưa người phụ nữ dũng cảm yên nghỉ trong một nấm mồ đất không bia chí ở cánh đồng của làng. 

Những năm 1930, chính quyền không cho phép bán hàng rong và cơm ở khu phố Pháp nên quán cơm tập trung nhiều ở khu phố cổ. Năm 1936, trên “Hà Nội báo” có đăng phóng sự gây ồn ã dư luận là “Cơm thầy, cơm cô” của Vũ Trọng Phụng. Cái hàng cơm mà Vũ Trọng Phụng không muốn nói tên nằm ở phố Hàng Chiếu, nơi có “chợ đưa người” (dân lao động các tỉnh chờ việc, cứ sáng ra đứng ở vỉa hè, ai có việc gì thì qua đấy tìm người làm) hay chị em mới sinh con nhưng không giữ được chờ người đến thử sữa. Từ hàng cơm, người ta đã chuyển sang gọi cơm đầu ghế, ám chỉ cơm chỉ dành cho người lao động nghèo. Từ một quán cơm, Vũ Trọng Phụng đã vẽ nên mặt trái của xã hội thời Pháp thuộc với đủ thứ tha hóa đạo đức.

bình luận(0 bình luận)

Top